Cà phê

Cà phê Arabica là gì? [Nguồn gốc, Lịch sử & Đặc điểm]

cà phê arabica

Cà phê Arabica là gì? [Nguồn gốc, Lịch sử & Đặc điểm]

Cà phê Arabica có tên khoa học là Coffea arabica hay Arabica coffee. Do giống cà phê này có hình thái giống cây chè, với lá nhỏ nên dân cà phê thường gọi cafe Arabica là cà phê chè. Cà phê chè có hai loại phổ biến trên thế giới đó là cà phê moka và cà phê catimor.

Giới thiệu chung

Cà phê Arabica phổ biến ở Brazil và Colombia

Đây là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê. Cà phê chè chiếm 61% các sản phẩm cà phê toàn thế giới.

  • Cà phê Arabica còn được gọi là Brazilian Milds nếu nó đến từ Brasil,
  • Gọi là Colombian Milds nếu đến từ Colombia,
  • Và gọi là Other Milds nếu đến từ các nước khác.

Qua đó có thể thấy Brasil và Colombia là hai nước xuất khẩu chính loại cà phê này, chất lượng cà phê của họ cũng được đánh giá cao nhất. Các nước xuất khẩu khác gồm có Ethiopia, México, Guatemala, Honduras, Peru, Ấn Độ.

Đặc điểm

Cây cà phê Arabica ưa sống ở vùng núi cao. Người ta thường trồng nó ở độ cao từ 1000-1500 m.

Cây có tán nhỏ, màu xanh đậm, lá hình bầu. Cây cà phê trưởng thành có thể cao từ 4–6 m, nếu để mọc hoang dã có thể cao đến 10 m. Quả hình bầu dục, mỗi quả chứa hai hạt cà phê.

Cà phê chè sau khi trồng khoảng 3 đến 4 năm thì có thể bắt đầu cho thu hoạch. Thường thì cà phê 25 tuổi đã được coi là già, không thu hoạch được nữa. Thực tế nó vẫn có thể tiếp tục sống thêm khoảng 70 năm đến 100 năm.

Cây cà phê arabica ưa thích nhiệt độ từ 16-25°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm.

Hạt Cà phê Arabica và Robusta

Trên thị trường, cà phê chè được đánh giá cao hơn cà phê vối (coffea canephora hay coffea robusta) vì có hương vị thơm ngon và chứa ít hàm lượng caffein hơn.

Một bao cà phê chè (60 kg) thường có giá cao gấp 2 lần một bao cà phê vối.

Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới nhưng chủ yếu là cà phê vối.

Năm 2005 dự kiến diện tích trồng cà phê chè mới đạt khoảng 10% tổng diện tích trồng cà phê cả nước (khoảng 40.000 ha/410.000 ha).

Hiện cà phê chè được trồng ở các tỉnh Lâm Đồng ở Tây Nguyên, vùng thành phố Sơn La, huyện Mai Sơn, huyện Thuận Châu (Sơn La) và Mường Ảng (Điện Biên) ở Tây Bắc.

Lịch sử hạt cà phê Arabica

Lịch sử hình thành

Theo như lịch sử cà phê trên thế giới, hạt cà phê rang đến từ các sứ giả từ Ả Rập Arab.

Họ nói rằng: sau khi sử dụng cà phê nó giúp ông làm việc được nhiều giờ hơn.

Sau đó, Tại Yemen, dân Ả Rập đã phát triển ra các loại cà phê hạt rang thành thứ đồ uống, sau đó lan truyền sang người thổ Nhỉ Kỳ, và Ai cập. Sau cùng, để trở thành một thứ đồ uống được ưa chuộng nhất trên thế giới.

Các sử giả đã cho rằng những cây trồng cà phê đầu tiên có mặt tại Yemen, trong thời kỳ tiền đạo Hồi.

Sự phát triển Cà phê chè phổ biến ra các nước khác

Sản xuất cà phê Arabica ở Indonesia bắt đầu vào năm 1699 thông qua việc truyền bá thương mại, trao đổi hàng hóa với Yemen.

Cà phê Indonesia, Sumatran và Java, được biết đến với độ nặng của hạt và độ axit thấp.

Điều này làm cho chúng trở nên lý tưởng để pha trộn với các loại cà phê có độ axit cao hơn từ Trung Mỹ và Đông Phi. Loài đặc hữu của vùng cao nguyên phía tây nam của Ethiopia.

Coffee arabica hiện rất hiếm ở Ethiopia, trong khi nhiều quần thể cà phê arabica được phổ biến là sự lai tạo giữa giống nòi arabica và giống khác.

Nó cũng đã được phát triển lại từ cao nguyên Boma ở Nam Sudan. Arabica Coffee cũng được tìm thấy trên núi Marsabit ở phía bắc Kenya, nhưng vẫn không rõ đây là giống thuần chủng hay là giống lai nữa.

Loài này được lai tạo rộng rãi ở các khu vực bên ngoài vùng đất bản địa, từ nhiều vùng của Châu Phi, Châu Mỹ Latinh, Đông Nam Á, Trung Quốc và các loại đảo ở Caribbean và Thái Bình Dương.

Bảo tồn giống thuần chủng Arabica

Việc bảo tồn biến thể di truyền của arabica coffee dựa vào việc bảo tồn quần thể cà phê hoang dã trong các khu rừng mưa nhiệt đới Afromontane của Yemen.

Nghiên cứu di truyền đã chỉ ra rằng trồng cà phê thương mại như hiện nay đang đe dọa tính di truyền toàn vẹn của cà phê thuần chủng.

Gần như tất cả các loại cà phê được trồng trong vài thế kỷ qua bắt nguồn chỉ bằng một số ít cây thuần chủng từ Yemen; và ngày nay cà phê arabica được trồng trên các đồn điền trên khắp thế giới chỉ chứa chưa đến 1% các loài giống tự nhiên ở Yemen.

Trồng trọt và sử dụng

Điều kiện thích nghi của hạt cà phê Arabica

Coffea arabica chiếm 60% sản lượng cà phê của thế giới.

C. arabica mất khoảng bảy năm để trưởng thành hoàn toàn và nó hoạt động tốt nhất với lượng mưa 1.0 – 1.0,5 mét (khoảng 40 – 59 inch), phân bố đều trong suốt cả năm.

Nó thường được trồng ở độ cao từ 1.300 đến 1.500 m, nhưng có những rẫy trồng cà phê mọc thấp đến mực nước biển hoặc cao tới 2.800 m.

Cây có thể chịu được nhiệt độ thấp, nhưng không có sương giá; và cà phê arabica hoạt động tốt nhất với nhiệt độ trung bình từ 15 đến 24 ° C (59 đến 75 ° F).

Các giống cây cà phê chè thương mại hầu hết chỉ phát triển đến khoảng 5 m và thường được cắt tỉa thấp tới 2 m; để tạo điều kiện cho thu hoạch.

Không giống như Coffea canephora, C. arabica thích hợp trồng trong bóng râm.

Cà phê Arabica ra hoa

Hai đến bốn năm sau khi trồng, cafe arabica tạo ra những bông hoa nhỏ, màu trắng, rất thơm.

Hương thơm ngọt giống như mùi ngọt ngào của hoa nhài. Hoa nở vào những ngày nắng dẫn đến số lượng quả lớn nhất.

Điều này có thể dẫn tới vài vấn đề và khó khăn

Tuy nhiên, vì cây cà phê có xu hướng sản xuất nhiều quả; điều này có thể dẫn đến một vụ thu hoạch kém và thậm chí thiệt hại trong những năm tiếp theo. Lý do là vì nhà máy sẽ kích thích quả cà phê chín sẽ sớm làm hại đến sức khỏe của cây cà phê

Cà phê Arabica ra quả

Trên các đồn điền được chăm sóc cẩn thận, việc ra hoa sớm được ngăn chặn bằng cách tỉa cây.

Những bông hoa chỉ kéo dài vài ngày, chỉ để lại những chiếc lá dày, màu xanh đậm.

Các quả cà phê sau đó bắt đầu xuất hiện. Chúng có màu xanh đậm như tán lá, cho đến khi chúng bắt đầu chín, lúc đầu chuyển sang màu vàng rồi đỏ nhạt và cuối cùng chuyển sang màu đỏ bóng, đỏ thẫm.

Tại thời điểm này, chúng được gọi là “anh đào” hay quả cherry, loại quả mà sau đó sẵn sàng để hái.

Thu hoạch quả cà phê Arabica

Quả cà phê thuôn dài và dài khoảng 1 cm.

Hái quả cà phê Cherry quá sớm hoặc quá muộn sẽ làm cà phê có năng suất thấp. Do đó, nông dân thường hái quả cà phê bằng tay vì trên cành có thể các hạt không chín cùng 1 lúc.

Thỉnh thoảng, bạn sẽ thấy nông dân thu hoạch cà phê bằng cách rũ cây cà phê, quả cà phê chín và chưa chín sẽ rơi xuống tấm bạt. Người ta thu hoạch cả 2 loại hạt cùng một lúc.

Cấu tạo bên trong quả cà phê

Cây rất khó trồng và mỗi cây có thể sản xuất từ ​​0,5 đến 5,0 kg hạt cà phê đã phơi khô, tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi cây và khí hậu mùa đó.

Phần có giá trị nhất của cây cà phê là những hạt cà phê bên trong.

Mỗi quả cà phê được hái chứa hai hạt giống như hạt đậu, người ta còn gọi là beans. Hạt cà phê thực sự là hai hạt trong quả cà phê; đôi khi, người ta thấy một hạt thứ ba hoặc 1 quả cà phê chỉ có một hạt mọc trong quả.

Hạt cà phê này được bao phủ trong hai màng; lớp ngoài được gọi là “lớp da giấy” và lớp bên trong được gọi là “lớp da bạc”.

Kết luận

Bài viết trên đã nếu rất rõ và chi tiết những thông tin liên quan đến Cà Phê Arabica

Bạn đã biết được hạt cà phê Arabica là gì, lịch sử hình thành, sự phát triển của Arabica coffee đến các nước khác, cấu tạo thu hoạch và đặc điểm của chúng. Nếu bạn có những câu hỏi nào khác, hãy comment bên dưới để được The Bazan giải đáp nhé.

Đánh giá post
Back to list

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.